Tái chế, tái sử dụng chất thải rắn tại TP.HCM

1. Thực trạng tái chế, tái sử dụng CTRCN tại TP.HCM

Hoạt động tái sử dụng chất thải rắn đang diễn ra rất đa dạng tại thành phố, tập trung nhiều nhất tại vùng ven ngoại thành.

Hoạt động tái chế, tái sử dụng và thu hồi chất thải rắn được thực hiện thông qua hệ thống qua hệ thống thu gom chất thải rắn theo mạng lưới ba cấp: người thu gom – Những người thu mua lẻ – Những địa lý thu mua tập trung.
  • Cấp 1 (hững người nhặt rác): Nhóm người này có cùng chức năng trong hệ thống thu gom nhưng khác nhau về đại điểm hoạt động, công cụ làm việc và nhu cầu vốn lưu động.
  • Cấp 2: (Người thu mua phế liệu từ những người nhặt rác): Những người thu mua phế liệu này có cùng chức năng nhưng họ thường ở vị trí cố định.
  • Cấp 3: Gồm những người hoạt động buôn bán với quy mô lớn, có thể coi là các điểm tập kết các chất thải có thể tái sinh và họ làm trung gian giữa các nhà máy và các nguồn thu gom chất thải tái chế.
Hoạt động tái sử dụng chất thải rắn công nghiệp diễn ra tại các đơn vị thu mua phế liệu tập trung nhiều ở vùng ven thành phố. Các hoạt động này tập trung tại các tuyến đường lớn và xung quanh các cụm công nghiệp, KCN, KCX với nhiều ngành nghề. Các loại phế liệu này được phân loại và tái sử dụng, tái chế.
  • Tổng số lượng các điểm thu mua phế liệu trên địa bàn Tp.HCM khoảng 1.500 địa điểm.Tuy nhiên tại các đơn vị này cũng xuất hiện tình trạng mua các chất thải công nghiệp có lẫn thành phần nguy hại.
  • Các hoạt động tái chế này hầu hết không kiểm soát được về môi trường, là các hoạt động tự phát.
  • Cơ sở hạ tầng và máy móc thiết bị của các ngành này thường rất lạc hậu, công nghệ của những năm 1980, 1990. Vì vậy khả năng gây ô nhiễm môi trường rất cao. Ngoài ra dòng chất thải này đang có xu hướng chảy ra nước ngoài. Ví dụ như xuất khẩu qua Trung Quốc các loại sắt, nhựa, inox, nhôm,…
  • Khả năng tái sử dụng và tái chế chất thải rắn công nghiệp không nguy hại chiếm khoảng 70-80% về khối lượng phát sinh. Phần còn lại xử lý theo phương pháp đốt, chôn lấp chung với rác sinh hoạt.
Tái chế các loại bùn thải (bùn nguy hại và không nguy hại), khối lượng phát sinh rất lớn, có nhu cầu nhưng chưa được đầu tư và phát triển đúng mức. Ngoài ra chưa thực hiện được tái chế thu hồi kim loại nặng từ chất thải điện tử, đây là nguồn chất thải có giá trị kinh tế cao (tăng khối lượng phát thải sau năm 2015), nhưng hiện nay vẫn được thu gom (thu mua phế liệu) và xuất khẩu sang các nước Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông, … theo nhiều con đường (hợp pháp và không hợp pháp).

2. Một số quy trình xử lý CTRCN tại TP.HCM

a) Giải pháp hóa học, hóa lý nhằm CTRCN

– Hiện nay, có rất nhiều phương pháp tái sinh CTRCN. Các phương pháp này áp dụng các quá trình hóa lý để thu hồi hoặc làm giảm lượng ô nhiểm trong chất thải nhằm phục vụ cho quá trình tiếp theo.

1

Hấp thụ bằng than hoạt tính

Dùng để loại bỏ thành phần vô cơ, chủ yếu là là các chất hữu cơ trong khí thải và nước thải. Đây là quá trình tích lũy chất ô nhiễm lên bề mặt than hoạt tính.

2

Trao đổi ion

Quá trình này mang tính thuận nghịch được sử dụng để thu hồi kim loại nặng hoặc làm tăng nồng độ của kim loại trong nước để tăng hiệu quả thu hồi kim loại nặng

3

Chưng cất

Quá trình này tách các chất dễ bay hơi ra khỏi các chất ít bay hơi bằng quá trình ngưng tụ, đây là giải pháp được áp dụng rộng rãi trong công nghiệp hóa chất

4

Điện phân

Dựa trên phản ứng oxi hóa khử trên bề mặt điện cực nhằm thu hồi các ki loại trong chất thải. Kỹ thuật này được sử dụng trong thu hời đồng, niken, kẽm, bạc,.. và cac kim loại có trong nước thải của xí nghiệp xi mạ, gia công kim loại.

b) Giải pháp sinh học – Phân Compost

– Compost là một vật liệu giống như đất mùn được ra do quá trình ổn định sinh học hiếu khí các vật chất hữu cơ có trong chất thải rắn. Việc chế biến thành phân trộn đạt hiệu quả cao nhất khi dòng chất thải không chứa các vật liệu vô cơ. Phương pháp này thường được áp dụng để xử lý rác sinh hoạt có trong thành phần thải của rác thải Công nghiệp từ khu vực văn phòng, nhà ăn hoặc căn tin, có thành phần các chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học chiếm từ 85 – 90% tổng khối lượng rác.

– Chu trình chế biến phân Compost vào khoảng 20 – 25 ngày. Trong chu trình đó, giai đoạn phân đoạn tan rã tối thiểu phải đạt 10 – 15 ngày. Trở ngại lớn nhất của việc chế biến rác thành phân Compost là việc phát sinh ra các mùi hôi thối. Việc duy trì các điều kiện hiếu khí và một thời gian lưu thích hợp sẽ giúp giảm thiểu các vấn đề về mùi hôi. Quá trình phân hủy các thành phần hữu cơ trong rác thải có sự tham gia của các vi sinh vật trong điều kiện môi trường thích hợp (nhiệt độ, độ ẩm, không khí,..) để tạo thành phân bón hữu cơ.

Compost là loại phân hữu ích cho đất nông nghiệp. Nó cải thiện cấu trúc đất, tăng cường khả năng giữ ẩm của đất, giảm bớt việc thẩm lậu (ngấm) nitơ hòa tan xuống các tầng đất bên dưới, và tăng khả năng đệm cho đất.

– Ưu điểm của phương pháp là tái chế được lượng lớn rác hữu cơ, giảm khối lượng rác đem đi chôn lấp tại các bãi rác.

– Nhược điểm của phương pháp là đòi hỏi chi phí đầu tư cao, và rác phải được phân loại tại nguồn.

c) Thiên đốt CTRCN nhằm thu hồi nhiệt

– Phần đốt các lò đốt hiện đại được thiết kế nhằm mục đích thu hồi lại năng lượng và kết chặt chẽ với nguyên tác kiểm soát ô nhiễm không khí.

– Chất thải được đưa vào buồng thứ nhất, ở đó nó được đốt cháy trong điều kiện không có đủ ôxy cho việc hoàn tất quá trình cháy. Khí sinh ra do quá trình cháy với thành phần chủ yếu là monoxít carbon (CO) được chuyển qua buồng thứ 2, ở đó một lượng thừa không khí được thổi vào, hoàn tất việc cháy.

– Có thể bổ sung nguyên liệu khi đốt Sau khi phần lớn rác thải được cháy hết dòng hơi nóng được chuyển qua nồi hơi tận dụng nhiệt của chất thải để sản xuất ra hơi nước. Tro được dập tắt bằng nước và được thải bỏ ở bãi chôn lấp rác. Hơi nước có thể được sử dụng trực tiếp hoặc có thể được biến đổi thành điện năng mới được bổ sung thêm một máy phát điện turbine. Ngăn ngừa và giảm thiểu việc phóng thích dioxin (một sản phẩm được tạo ra từ sự đốt cháy các phế phẩm plastic đã được chlorine hóa) có thể được thực hiện việc giảm thành phần plastic trong chất thải đem đốt hoặc sử dụng thiết bị kiểm soát ô nhiễm không khí thích hợp.

– Ưu điểm của phương pháp là công nghệ đơn giản và chi phí thấp, việc thu hồi lại ượng khí gas sẽ giảm được một phần chi phí sản xuất. Bên cạnh đó việc thiêu đốt còn lảm giảm đến mức nhỏ nhất khôi lượng CTRCN so với ban đầu.

– Nhược điểm: chiếm diện tích đất tương đối lớn; không được sự đồng tình của dân cư xung quanh; việc tìm kiếm xây dựng bãi chôn lấp mới là khó khăn và có nguy cơ dẫn đến ô nhiễm môi trường nước, không khí, gây cháy nổ.

3. Lợi ích của công tác tái chế, tái sử dụng CTRCN tại TP.HCM

– Tiết kiệm được nguồn tài nguyên thiên nhiên do sử dụng những vật liệu tái chế thay cho những nguồn tài nguyên thiên nhiên cần phải khai thác (tái chế giấy – giảm khai thác rừng, tái chế nhiên liệu giảm áp lực khai thác các nguồn nhiên liệu hoá thạch).

– Giảm được lượng rác cẩn phải xử lý, giảm chi phí cho các quá trình này, nâng cao thời gian sử dụng của các bãi rác.

– Một số chất thải trong quá trình tái chế tiết kiệm năng lượng hơn các quá trình sản xuất từ các nguyên liệu thô ban đầu (tái chế Nhôm tiết kiệm 95% năng lượng so với Nhôm nguyên liệu từ quá trình luyện kim)

– Giảm tác động đến môi trường do lượng rác thải gây ra.

– Có thể thu được nguồn lợi nhuận từ lượng rác vứt bỏ.

– Tạo công ăn việc làm cho một lực lượng lao động.

Gọi ngay
Chat zalo
Báo giá bao-gia